TIẾN SỸ HỒNG MAI VÀ NGHIÊN CỨU SINH HẢI BÌNH PHỎNG VẤN CHÁNH HỘI TRƯỞNG CHÍ ĐẠT – NGUYỄN HỮU NHƠN VỀ CÁC MỐI QUAN HỆ XÃ HỘI TRONG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

– Hôm nay, các Đệ Muội đến Nam Thành Thánh thất thăm Đại huynh Chí Đạt để mọi người được hiểu thêm về các Giá trị nhân văn và về những Nhân vật lịch sử quan trọng trong Đạo Cao Đài.

– Tệ huynh Chí Đạt – Nguyễn Hữu Nhơn sẽ nói về cuộc đời mình bằng hình thức:“Lịch sử qua lời kể”. Tệ huynh bắt đầu đây:

Huynh đã có hơn 65 năm tuổi Đạo, ngoài 55 năm nghiên cứu về Giáo lý và Khoa học lịch sử Đạo Cao Đài và có khá nhiều mối quan hệ trực tiếp các Hội Thánh trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nói chung từ trước 1968, cũng như hiểu biết tương đối về các nhân vật đặc biệt trong chuỗi các sự kiện lịch sử quan trọng của nền Đạo.

Bản thân Chí Đạt có mặt tại Nam Thành Thánh thất từ năm 1964, lúc đó huynh là Học sinh trường Trung học Pétrus Trương Vĩnh Ký, Sài Gòn và bắt đầu trưởng thành, nhưng trong thực tế huynh đã có mặt tại Nam Thành Thánh thất tức Cầu Kho tái lập – Thánh thất đầu tiên của nền Đạo Cao Đài tọa lạc tại số 38-40-42 đường Général Leman, quận Nhì, Sài Gòn. Từ những ngày đầu huynh đã đến dự lễHội Yến Bàn Đàotại Diêu Trì Bửu điện, rồi các ngày Lễ, Sóc – Vọng hay ngày rằm Tam Ngươn {Thượng(15 tháng 1), Trung(15 tháng 7), Hạ(15 tháng 10)} trong năm. Bản thân huynh may mắn được đảm nhận nhiệm vụ dọng chuông lớn(gióng Đại Hồng Chung)tại Nam Thành Thánh thất. Có lẽ, nhờ tiếng chuông ngân nga “boong – boong – bông” này đã đánh thức tâm linh trong huynh, cũng có nghĩa là huynh được Thầy Mẹ và Chư Thiên cùng Hội đồng Tiền Bối Khai Đạo gia hộ. Mặc dù đã ba đời(Ông nội, Cha và Huynh)là Đạo giòng, nhưng bén duyên theo Đạo Cao Đài chính là tại thời điểm đó.

Từ quá trình tu học, nghiên cứu và hành đạo xuyên suốt chiều dài hơn 60 năm như thế, nên huynh sẵn sàng trả lời về Khoa học lịch sử của nền Tôn giáo bản địa.

Ví dụ:Giáo chủ Đạo Cao Đài là Đấng nào?. Hầu hết mọi người thường ấp úng, trả lời không suôn. Thì đây, huynh trả lời thay họ:Giáo chủ của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độlà mộtĐấng Vô Vi, không có Xác phàm và âm thanh sắc tướng, hoàn toàn khác với các vị Giáo chủ của thời Nhất Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ.Nhất Kỳcác Giáo chủ: Nhiên Đăng Cô Phật, Thái Thượng Đạo Tổ, Phục Hy Đế Quân…, đếnNhị Kỳcó các Giáo chủ:Bổn Sư Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử và Chúa Jêsu… đều sinh ra làm “Người”, tu hành rồi “Đắc đạo”. CònTam Kỳ, thời kỳ mạt pháp cuối cùng Giáo chủ là mộtĐấng Giáo chủ Vô vi, tức Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, vậy mà người theo đạo Cao Đài cứ mơ tưởng rằng “vị Lãnh đạo Hội Thánh chi phái của mình là Giáo chủ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”. Do nguyên cớ ấy, mà họ chưa tìm hiểu việc “thành lập Đạo Cao Đài” KHÔNG phải do bất kỳ củaCá nhânnào?, mà là củaTập thể 28 vị Tiền bối Khai Đạovâng lệnh Thánh ýĐấng Cao Đài Tiên Ông: KHAI ĐẠO NƠI CHÁNH PHỦ.

1951-01-05 Hai vị Tiền hiền PHAN TRƯỜNG MẠNH và ĐINH NHỰT THANH di Liên đài Đức Thái Đầu sưNGUYỄN NGỌC THƠ từ NAM THÀNH THÁNH THẤT về Thánh địa Cao Đài TÒA THÁNH TÂY NINH

Đến đây, huynh kể tiếp. Từ năm 10 tuổi, Thân phụ huynh là Nghĩa tử của ngàiNguyễn Văn Phùng– một vịChánh Hội trưởng của Thánh thất Cầu Kho(1938-1941)– Nam Thành Thánh thất(1948 -1961). Từ năm 1962, Song thân huynh đi Liên giao hành đạo các nơi, từng bước, huynh cũng được đi theo và học Giáo lý ngay từ khi còn rất trẻ. Hiện tại, mặc dù cũng có Huynh Tỷ lớn hơn huynh, nhưng ít người nào có sự am hiểu từ xa xưa, huynh may mắn được tiếp cận trực tiếp qua các mối quan hệ trong Đạo và có cơ hội tận mắt chứng kiến nhiều chuỗi sự kiện diễn tiến quan trọng.

Khi được đi cùng Thân phụ mẫu sangTam Giáo điện Minh Tântại số 221 Bến Vân Đồn, Vĩnh Hội, Sài Gòn 4, để các cụ nhận lãnh nhiệm vụPháp đànkiêmBảo đàntrong Bộ phận Hiệp Thiên Đài củaGiáo hội Cao Đài Thống Nhứt Trung Ươngvà huynh cũng được đi liên giao hành đạo, trải nghiệm, được học giáo lý cao siêu dưới sự thương yêu từ quý Tiền hiền dạy dỗ.

Huynh rất ngưỡng mộ ngài Quản phápLê Minh Tòng. Bác Tòng từng đi khắp nơi giảng Đạo Cao Đài bằng tiếng Pháp cho giới trí thức đương thời; rồi bácKiến Minh(là Nhạc phụ của Đại huynh Thiên Vương Tinh, ông ngoại của Hiền muội Diệu Nguyên); đến bácHải Thần, bácHuỳnh Đức(Phan Khắc Sửu)đều là các Thành viên sáng lậpGiáo hội Cao Đài Thống Nhứt Trung Ương.

Quay trở lại Nam Thành Thánh thất, có ngàiLương Văn Bồi– Phó Chủ tịch Hội Thông Thiên học Việt Nam; ngàiTrần Công Khánh(tự Sanh, Thánh danh Linh Châu Tử)là Nghĩa nội tổ thứ Hai của huynh; rồi các bácTrần Văn QuếPhan Trường Mạnhlà nhà Hiền triết lỗi lạc thời bấy giờ. Ở đây, huynh chỉ nói về Nam Thành Thánh thất thôi, không đề cập đến Thánh thất Cầu Kho, vì thời điểm đó huynh chưa ra đời. Còn về Sử liệu, ngài Thái Đầu sưThái Thơ Thanh(Nguyễn Ngọc Thơ)là Chủ nhiệm sáng lập Tạp chí La Revue Caodaique, ngài Chủ nhiệm sáng lập Cao Đài Giáo lý viện, còn gọi Thiên đạo Học đường, còn ngài Phan Trường Mạnh làm Giám đốc. Qua đó cho chúng ta thấy rằng Nam Thành Thánh thất chuyển tiếp từ Thánh thất Cầu Kho có nhiều nhà Hiền triết để lại cho đời và đạo, bên cạnh đó không thể thiếu ngài Bảo phápNguyễn Trung Hậuvà ngài Phối sưNguyễn Văn Cacũng đã viết trong Tạp chí Cao Đài La Revue Caodaiste trải dài từ 1929-1935.

Một kho tàng tài liệu quý giá được bao nhiêu người đọc, bao nhiêu người hiểu để chia sẻ, chuyển tải thông tin chuẩn xác cho thế hệ mai sau. May mắn còn có các Tiến sĩ, Nghiên cứu sinh bên cạnh để huynh trao truyền lại công trình sưu tập Sử liệu khoa học sau này cống hiến cho nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Vào năm 1961, khi Nội tổ huynh là ngàiNguyễn Văn Phùngquy tiên, sau đắc quả vịThiện Chí Chơn Nhơn, rồi sau này thăng lên phẩm vịHuệ Đức Chơn Tiên.Sau thời điểm đó, bácĐinh Nhựt Thanhđược Chư Thiên vận chuyển đón nhận cơ Pháp đạo đến tư gia số132 đường Nguyễn Cư Trinh, Sài Gòn 2 để chuẩn bị thời kỳThiên Khai Huỳnh Đạora đời, mà trước đó vào năm Kỷ Hợi(1959)một số Chức sắc của Hội ThánhCao Đài Nhị Giangtừ Châu Đốc chuyển hóa về Gò Công, rồi đến Thánh tịnh Đại Thanh, Phường 3, Gò Vấp và thừa Thiên lệnh của ĐứcThượng Đẳng Từ Tôn – Diêu Trì Kim Mẫuđã cho dựng bảng:Long Vân Đại Đàn,vào ngày mùng 1 tháng 6 năm Canh Tý(1960). Đến thời kỳ bác Đinh Nhựt Thanh được Ơn Trên dạy: “Chuẩn bịCơ phápchuyển nối tiếpCơ đạocủa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” cần được hỗ trợ và thực hiện hai điều:

  • Mộtlà cho mọi người tu theo cơ Tuyển độ gọi làTâm pháp Bí truyền.
  • Hai, Thiên Khai Huỳnh Đạo chính làcơ Tuyển độ, còn gọiCơ tận độ chúng sanh.

Sau 20 phút trôi qua, huynh đã kể chuyện một phần Sử đạo mà huynh là Nhân chứng lịch sử sống cho Hiền muộiHồng Maivà Hiền đệHải Bìnhrồi.(Tham gia buổi phỏng vấn ngày hôm nay, có em Hồng Mai là Tiến sĩ Triết học {là em của Giáo sỹ Hoàng Mai, là Nữ ngoại tôn của đức Đầu sư Ngọc Lịch Nguyệt một trong 28 vị Tiền bối Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ} và em Nghiên cứu sinh Hải Bình của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh).

– Bây giờ hai Em hãy trả lời cho anh Hai biết “Mục đích và Tôn chỉ của đạo Cao Đài là gì”.

– Dạ, anh Hai kể chuyện Đạo tiếp cho hai Em biết luôn đi!(Đến đây đổi cách xưng hô “Anh với Em” cho gần gũi).

Thì thôi, anh Hai nói tiếp đây. Theo anh Hai:

  • Mục đích của Đạo Cao Đàilà ngoài độsanhcòn phải độtử;
  1. Độ sanhlà độ cho nhơn sanh làm lành, lánh dữ và lập công bồi đức;
  2. Độ tửlà độ cho những chơn linh đã thác hay chết oan định thần, định tánh, buông bỏ ác niệm để được đầu thai tái kiếp và hướng về cõi Thiêng liêng hằng sống. Đó chính là độ rỗicả hai phần hồn lẫn phần xác.
  • VềTôn chỉ, chính làTam Giáo Quy Nguyên – Ngũ Chi Phục Nhất. Còn tại Nam Thành Thánh thất Cầu Kho từ xưa là:Tam Giáo Quy Nguyên – Ngũ Chi Hiệp Nhất.

Đến đây, anh Hai quay trở lại. Vào năm 1962, Nam Thành Thánh thất Cầu Kho đã thành lậpHội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo. Hội đồng sáng lập, gồm có: 36 vị,Nam phái18 vị Thiên Tinh vàNữ phái18 vị Bửu Liên, do bác Ngô Hoàng Dư tức làThiên Ngọc Tinhvà Thân phụ anh –Thiên Huy Tinhcùng Thân mẫu anh –Bửu Liên Chiếulà những người trong Danh sách 36 Vị sáng lậpHội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo tại Nam Thành Thánh thất, vào ngày Rằm tháng 8 năm Nhâm Dần(Tết Trung Thu), người Đạo Cao Đài gọi làHội Yến Bàn Đào(còn có tên gọi Hội Yến Diêu Trì Cung). Tại đây, ngày nay anh Hai là Hậu bối của các Vị sáng lập Hội Thánh, mà nay cũng có em Hải Bình(Thiên Thành), có dịp anh Hai nói về Huỳnh Đạo sâu thêm.

Sau này, em Hải Bình hay các em hậu sinh của Thiên Khai Huỳnh Đạo muốn viết về lịch sử của Tôn giáo Bản địa này, thì anh Hai bổ trợ nhiệt tình từ tư liệu đến những diễn biến sự kiện lịch sử mà anh là người trong cuộc, là người nắm cội rễ của sự ra đời của Chi phái này.

Sau khi Hội Thánh Thiên Khai Huỳnh Đạo được thành lập vào năm 1962, Thân mẫu của anh – ngàiBửu Liên Chiếuđã đứng ra vận động các Mạnh thường quân, để có một số tiền lớn gom về73A Phan Thanh Giản, Gò Vấp, Gia Địnhvà xây dựngBửu Tòa Di Lạclà nơi đặt trụ sở đầu tiên của Hội Thánh.

Trong giai đoạn(1962-1963), tại Tư giahọ Lêsố 221 Bến Vân Đồn, Sài Gòn 4, bácLê Văn Trânlà con trai của ngàiLê Minh Khásáng lậpChi Minh Tân, là Phu quân của bà Vương Thanh Chi(Thanh Dương, Trưởng nữ của Tiền bối Khai Đạo Vương Quan Kỳ, mà anh gọi là Dì Hai), là chú ruột của Hiền đệ Lương y Lê Minh Nghĩa. Lúc bấy giờ, ĐứcLý Giáo tông Vô vi Đại Đạoban Thánh lệnh thành lậpBan Phổ thông Giáo lýthuộcGiáo hội Cao Đài Thống Nhứt Trung Ương,mà chínhĐức Lýlại là Trưởng ban và hai vị phó –Phó Trưởng ban 1Ià ngàiTrần Văn Quế(Thánh danh Huệ Lương, là Bổn đạo kỳ cựu tại Thánh thất Cầu Kho từ những năm 1929, là một cây bút son trong tạp chí La Revue Caodaistevới bút danh Tiểu Giác)Phó Trưởng ban 2là bácNguyễn Triệu Kha(Thánh danh Chơn Tâm). Các tài liệu của bác Quế và bác Kha được anh sưu tập, lưu trữ từ khi anh còn trẻ, và gìn giữ cho đến nay.

Hơn thế nữa, bácTrần Văn Quếcòn thuyết trình, dạy Giáo lý Cao Đài bằng tiếng Pháp cho người Pháp và người học Ngoại ngữ ấy. Bác Quế có nhiều cơ hội và thời gian được kề cận với Tiền bối Khai đạoĐoàn Văn Bản(mặc dù, bác Quế (1902)nhỏ hơn ngài Đoàn Văn Bản(1876)đến 26 tuổi, Đốc học Bản làNgười đầu tiên truyền bá đạo Cao Đài ra nước ngoài vào năm 1928. Bác Quế là Thành viên trong Ban Thuyết minh Giáo lý từ Thánh thất Cầu Kho đến Nam Thành Thánh thất, rồi lại tham gia sinh hoạt với Giáo hội Cao Đài Thống Nhứt Trung Ương. Khoảng thời gian 1963-1964, bác Trần Văn Quế với bác Lê Văn Trân không đồng thuận nhau, nên Ban Phổ thông Giáo lý Cao Đài thuộc Giáo hội không còn tồn tại nữa, mà chuyển sang giai đoạn mới với Danh xưng khác! Một bên, Kiến họ Lê, trước đó đã chấp thuận Giáo hội Cao Đài Thống Nhứt Trung Ương đặt trụ sở tại Tam Giáo điện Minh Tân, còn Ban Phổ thông Giáo lý chỉ là môt Bộ phận của Giáo hội, mà bác Trần Văn Quế và bác Nguyễn Triệu Kha là Lãnh đạo Ban này. Do hai bên không thể hợp tác nên lãnh đạo Cửu Trùng và Hiệp Thiên đài của Giáo hội cho tiến hành họp “Bỏ phiếu” trên tinh thần bình đẳng. Sau 2 lần bỏ phiếu, thìcả 2 lần đầu số phiếu giữa hai bên đều ngang nhau. Chưa biết cách giải quyết như thế nào? Giáo hội thiết lập Đàn cơ xin ý kiến Thiêng liêng, thì đứcLý Giáo tông Vô vigiáng cơ về dạy: Tập thể phải bỏ phiếuLần thứ 3, lần này bác Lê Văn Trân có số phiếu cao hơn bác Trần Văn Quế 1 phiếu(tức cách biệt 2 phiếu). Một thời gian ngắn, bác Trần Văn Quế và bác Nguyễn Triệu Kha cùng vài người trong Ban phải rời đi, trước tiên là trở lại Nam Thành Thánh thất để hoạt động “Phổ thông Giáo lý”(Tiêu ngữ này đã có sẵn từ 1948 được đăng trên Tạp chí Cao Đài Giáo lý và trên mặt sau của Bát Quái đài Nam Thành Thánh thất). Vì lẽ đó, khoảng 10 năm(1964-1974)Nam Thành Thánh thấtchính là điểm sơ khai củaCơ quan Phổ thông Giáo lý Cao Đài giáo Việt Nam(các Đại hội Thường niên hầu như được tổ chức tại Thánh thất đầu tiển này).

Phải đến ngày mùng 1 Tết năm Ất Tỵ(1965),Đức Cao Đàichính thức dạy Danh xưng mới được gọi làVăn phòng Giáo lý.

Thầykhông mượn lâu dài chùa, thất

Mượn lòng conchơn thậtmà thôi

Không chức sắc, không vị ngôi

Mà còn khảo đảo còn hồi gian nan”.

Sau đó, cư sỹ Phật giáoNgô Chí Bìnhđến thuyết phục hai bác Huệ Lương và Chơn Tâm hãy đến nhận một phần của tư gia(đang là lớp học)của trường Tiểu học Tư thụcChí Thanhở lầu 01 số 165E Cống Quỳnh để tạm làm Văn phòng Giáo lý và lầu 2 dùng để lập đàn cầu cơ, Độc giả là chú Huệ Chơn.(tạm gác Lược sử Cơ quan PTGL Cao Đài giáo Việt Nam).

Đến năm 1965, bácBạch Pháplà Trưởng đoànCơ quan Liên Chi Cao Đài Duy Nhất, là chỗ thâm tình với ngàiChí Thiện(Thân phụ của anh)và côBạch Tuyết(Lê Ngọc Trang là Thân mẫu của em Hồng Mai đây),là các Thành viên vận động thống nhất Đạo Cao Đài. Cơ quan Liên Chi Cao Đài Duy Nhất được Ban Cai quảnNam Thành Thánh thấtsẵn lòng cho đặt Văn phòng theoHiệu triệu Đoàn Kếtngày 08/3 năm Ất Tỵ(1965)củaHội Thánh Cao Đài – Tòa Thánh Tây Ninh.

Đến 1994, 1995 và 1998, Tệ huynh Chí Đạt đi cùng với Đại huynhThiên Pháp Tinhđến Tòa Thánh Tây Ninh(3 lần). Anh Hai rất ngưỡng mộ ngàiHội trưởng Hội đồng Chưởng quản – Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninhlà Phối sưThượng Thơ Thanh. Anh được tiếp cận và được học hỏi từ vị Lãnh đạo của Tòa Thánh Tây Ninh lúc bấy giờ. Thời điểm đó,Ban Tôn giáo Chính phủcông nhận Tư cách pháp nhânCơ sở Đạo Cao Đài “Tòa Thánh Tây Ninh”và về Nguồn nhân sự thì công nhận“Hội đồng Chưởng quản”, chưa được công nhận“Hội Thánh Cao Đài – Tòa Thánh Tây Ninh”(Năm 2007 mới công nhận Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh).

Sau khi hạnh ngộ với Đại huynhPhối sư Thượng Thơ Thanhxong, anh đến gặp Giáo sưThượng Tám Thanh(Nguyễn Thành Tám), qua trao đổi Đạo sự, anh có hỏi thăm về Hội Thánh Đường Nhơn và Hội Thánh Tần Nhơn. Các Em biết hai Hội Thánh này không?.

  • Hội Thánh Đường Nhơnlà Hội Thánh dành cho những người Hoa tu học, hành đạo theo Đạo Cao Đài;
  • Hội Thánh Tần Nhơnlà Hội Thánh dành cho những người Campuchia tu học, hành đạo theo Đạo Cao Đài.

Sau đó, anh tặng choHội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh“02 cuộn băng Cassette và tài liệu liên quan đến ngày Khai Đạo 23/8 Mậu Dần (1998)tại Nam Thành Thánh thất Cầu Kho”và được nhậnThư cảm ơncủa ngàiPhối sư Thượng Thơ Thanh– Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.

Và, hơn 30 năm qua(1994-2026), anh vẫn giữ mối quan hệ thường xuyên với các Trưởng huynh Thượng thống của HTCĐ Tòa Thánh Tây Ninh, như:

  • Trưởng huynh Phối sưThượng Minh Thanh(Kiều Ngọc Minh) – Thượng thống Học viện (nguyên Trưởng ban Ban Đại diện HTCĐ Tây Ninh tại TP. HCM;
  • Trưởng huynh Phối sưNgọc Hồng Thanh(Lê Phương Hồng) – Thượng thống Lại viện (nguyên Trưởng Cai quản Thánh thất Trường Tây);
  • Trưởng huynh Phối sưThượng Vân Thanh(Hà Thanh Vân) – Nguyên Chánh Từ hàn Đầu sư đường.

Khi Thân phụ anh đăng Tiên vào ngày 10/3/1994, cũng nhờ mối quan hệ của Cha Mẹ và của anh Hai màTòa Thánh Cao Đài Tây Ninhđã phân cử Trưởng huynh Giáo sưNgọc Tấn Thanhvà ba Ban Lễ Nhạc Đồng nhi(qui mô và đông đảo nhất thời điểm đó)xuống Nam Thành Thánh thất làm Lễ “Đăng điện” cho ngàiChí Thiện – Nguyễn Văn ĐứcChánh Hội trưởng Nam Thành Thánh thất Cầu Khotròn 20 năm (1975-1994), và Trưởng huynh Thừa sửLê Quang Tấncũng đến viếng tang và có đôi lời “Xưng tụng công đức” Thân phụ của huynh. Đó là một điều mà Gia đình anh luôn khắc cốt ghi tâm!

Giai đoạn (1968-1974), Nam Thành Thánh thất tiếp nhậnHội Thánh Thiên Khai Đại Đạo Tam Kỳ Chuyển Tiếpdo bácĐinh Nhựt Thanhcó Thiên danhThiên Bác Đại Tinh Quân– Chánh Hội trưởng Nam Thành Thánh thất(từ 1961-1969 và 1969-1974 là Hội trưởng Danh dự); chúHồng QuangThiên Chánh Tinh Quânlà Đồng tử; Đại huynh Luật giaNgô Đình Hảo– Thiên danhThiên Hiệp Tinh Quânlà Thượng Chưởng pháp; Thân phụ anh Hai làNguyễn Văn ĐứcThiên Hiện Tinh Quânlà Thái Chưởng pháp, đảm nhận thêm nhiệm vụPháp đàn. Đến 1974, Hội Thánh Thiên Khai Đại Đạo Tam Kỳ Chuyển Tiếp được lệnh chuyển đến trụ sởHòa Đồng Tôn Giáoở Phú Lâm, là tư gia bácThiện Phước(Chủ xe đò)và dìHuỳnh Hoa Pháp(Chủ tịch Nữ Đoàn Đại Đạo). Thời điểm này, có ôngHai Đạo Dừa, tức Kỹ sư Canh nôngNguyễn Thành Namthường đến đây để tịnh luyện và có ý định là sẽ ra tranh cử Tổng thống với ông Nguyễn Văn Thiệu.

Vào năm 1956,Hội Thánh Tiền Giangđược thành lập tại Minh Kiến Đài, Gò Vấp vào năm Bính Thân, đồng thời cũng trong năm này, còn có 2 Hội Thánh: Cao Đài Chiếu Minh – Tòa Thánh Long Châu, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang và Hội Thánh Truyền giáo Cao Đài Đà Nẵng, 63 Hải Phòng, ĐN (1956). Đến năm 1973, Hội Thánh Tiền Giang được lệnh Ơn Trên chuyển dời Trụ sở từ Minh Kiến Đài, Gò Vấp đếnNam Thành Thánh thất, Quận Nhì, Sài Gòn để tiếp tục hành đạovà lập đàn cơ đến năm 1981. Sang năm 1982, thì Hội Thánh Tiền Giang không còn hoạt động nữa. Chỉ cònBan Xử lý Thường vụthay mặt Hội Thánh và sau này tự giải thể.

Anh Hai trực tiếp phỏng vấn với các Vị kỳ cựu củaGiáo hội Cao Đài Thống Nhứt Trung Ương, như sau:

  • MộtLưu Thị Cảnh, Thánh danhHồng Huệ– Nguyên: Thư ký, phụ tá cho côLê Thị Trinh(cô thứ Tư của Lương y Lê Minh Nghĩa). Tại Kỳ họp thứ VI,ngày 27/6 Giáp Tuất(1934)cô Tư là Chủ tịch Nữ Chung Hòa, Tổ chức này ban đầu được thành lập tạiTam Giáo điện Minh Tân, Khánh Hội. Sau khi Cô Tư quy Tiên, Dì 2Hồng Huệthay thế. Còn sau này, anh không còn theo dõi nữa;
  • HaiThân mẫu của anh Hai làDương Thị Phụng(Thánh danhBạch Mỹ Thông)nhiều lần kể lại cho con nghe;
  • BaHội đủ Duyên lành phỏng vấn dì HaiVương Thanh Chi(Thánh danhThanh Dương)và Dì BaDương Xuân Hà(Thánh danhBạch Hạp)tại Tam giáo điện Minh Tân, là nhị vị Hiếu nữ của ngàiVương Quan Kỳ, và dì Vương Thanh Chi tham dựLễ Khánh thành Từ Lâm tự(chùa Thiền Lâm, Gò Kén – Tây Ninh)và đã bị tà ma ngoại đạo nhập vào và tự xưng làQuan Âm Bồ Tát(Còn Nam phái, có một vị Tiền bối không có đứng tên trong Danh sách 28 Khai Đạo, làLê Thế Vĩnhcũng bị nhập và xưng làTề Thiên Đại Thánh);
  • BốnHiền đệ Lương yLê Minh Nghĩa(73 tuổi), là cháu Cố của ngài Lê Minh Khá, hiện là Chủ Đền thờ họ Lê, vừa cung cấp tài liệu hình ảnh xưa, vừa kể lại sự tích về Tam Giáo điện Minh Tân và Nữ Chung Hòa phái,… nhiều lần cho anh nghe.

Cũng bởi“cuộc biến” ồn ào, náo nhiệt và xáo trộn hết cả vùng Gò Kén, Tây Ninh vào ngày 19/11/1926, mà anh Hai quyết tâm sưu tầm Sử liệu cực kỳ quý hiếm cho bằng được, và nay anh đã mãn nguyện rồi với đầy đủbằng chứng cụ thể và những tài liệu khoa họccó từ xưa của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I & II, các Thư viện Quốc gia Việt Nam, Pháp quốc, Camphuchia và Cầu Kho – Nam Thành đã để lại… Vì lẽ đó, nên khi anh Hai đọc hầu hết các sách Sử của đạo Cao Đài từ xưa cho đến nay đềukhông thấy tác giả sử dụngnhữngtài liệu quý báu này,không phải họ cố ý viết sai, mà là do họviết thiếuvì không có đủ Sử liệu, chứng cứ. Đó là lý do cụ thể, chính đáng nên khi Quyển sách “Ngày Khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ 23 tháng 8 năm Bính Dần (Thứ tư, ngày 29/9/1926)được Cục Xuất bản In – Phát hành cho phép “ra đời” và truyền thông rộng rãi, trong sách tại những trang đầu đã có khoảng20 Lời Giới thiệucủa Lãnh đạo các Cơ quan của Đảng, UBTW. MTTQVN, Ban Tôn giáo Chính phủ, các Nhà khoa học, Tôn giáo khác cùng với Lãnh đạo Cấp cao của một số Hệ phái Cao Đài, điển hình như: NgàiVũ Anh Tuấn– Vụ trưởng Trưởng Cơ quan Thường trực Ban Dân vận Trung ương tại Thành phố Hồ Chí Minh , ngàiVõ Văn Thiện– Trưởng ban – Ban Công tác phía Nam(UWTW MTTQVN), PGS-TSNguyễn Thanh Xuân– Giảng viên Học viện Chính trị Quốc gia KVI(nguyên Phó Trưởng ban – Ban Tôn giáo Chính phủ), Nhà Sử họcDương Trung Quốc– PCT kiêm TTK Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, ngàiNguyễn Xuân Thắng– Chủ tịch LH các Hội Unesco Việt Nam, TSDương Hoàng Lộc– GĐ Trung tâm Nhân học – trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. HCM, TSNguyễn Thị Quế Hương– Trưởng phòng Tôn giáo khác – Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Mục sưTrần Thanh Truyện– Hội trưởng Giáo hội Cơ Đốc Việt Nam… và một số Hội Thánh Chi phái cũng đồng hành với Lời Giới thiệu – Có cả Đời và Đạo.

Đến đây, anh em chúng ta hãy cùng nhau học tập, nghiên cứu và dâng hiến cho phạm trù của cái Chung, tức ngày càng làm sáng tỏ Chính sử Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ – Một Tôn giáo Nội sinh do chính Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế làm Giáo chủ và Tập thể Nhị thập bát Tinh quân thành lập./.

Thư kýTrương Nhật Khanh(ghi âm và viết lại)